Thursday, June 4, 2015
Sự thật ai đã giết cố đại tá Lê Quang Tung?
Tôi xin mạn phép thưa qúy vị vài điều trước khi trả lời câu hỏi trên.
Đối với những ai chưa biệt, tôi xin thưa rằng tôi là Cựu Đại Tá Trần Doãn Thường, thuộc Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Vào thời điểm đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi là Chánh Văn Phòng của Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm mà Th/Tg LVN là một thành viên trong hàng ngũ sĩ quan đảo chánh, như vậy những điều cố Thiếu Tướng LVN thuật với tôi là Chánh Văn Phòng ắt Phải là những điều khả tín và có giá trị A1.
Tại sao tôi đã không lên tiếng khi biết sự thật Ai đã giết Đại Tá Lê Quang Tung từ 47 năm trươc mà nay lại viết ra? Lý do là:
a/ vào thời điểm đó, không khí “cách mạng” sục xôi, nói những điều mà không khí cách mạng và tình thế chưa ổn định thì kẻ “hớt lẻo” đương nhiên là sẽ và phải chịu hậu quả khó lường.
b/ Vào thời điểm khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Trần thiện Khiêm cầm quyền thì mọi sự coi như đã ổn cố, nếu tiết lộ bí mật ra chắc sẽ gây xáo trộn và hậu quả chắc không mấy tốt đẹp.
c/ Sau 1975 nếu tiết lộ bí mật này ra thi Để làm gì khi nước đã mất, nhà đã tan?
Tại sao nay tôi lại lên tiếng sau khi đã im lặng 47 năm từ 1963 tới nay? Lý do là tôi đã thấy:
a/ những sự buộc tội gây hàm oan cho người khác là Th/ Tg Lê Minh Đảo
b/ Những sự vu khống, bịa đặt cho người đã chết là đại úy Nguyễn văn Nhung. Vu khống để buộc tội cho ngưòi đã chết, đã có thành tích giết cố TT NĐD và CV NĐN là chuyện quá dễ và thông thường vì Người chết không đội mồ lên mà cải chính hàm oan được.
c/ Những vị viết hồi ký có thể là đã có thoả thuận qui kết cho đại úy Nhung giết Đai Tá LQT, một là để chạy tội hai là để kết tội, ba là như ngạn ngữ “Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết”. Chuyện này chỉ những ai ngây thơ mù quáng tin tưởng vào các hồi kỳ để chạy tội và buộc tội hoặc là các vị trong trường phái viết sử PHỊA có thể làm được.
AI ĐÃ GIẾT CỐ ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG?
Đó là một trung sĩ Quân Cảnh canh gác ở Tòa Nhà Chính Bộ Tổng Tham Mưu.
ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG ĐÃ BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO?
Theo lời Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm thuật lai cho tôi và hai sĩ quan cấp úy thường chầu trực tại tư dinh th/tg LVN vào chiếu tối 2/11/1963 thì:
Do lệnh của Tướng Dương Văn Minh, Trung Tưóng Trần văn Đôn đã điện thoại kêu Đại Tá Lê Quang Tung tới bộ TTM họp vì có tin có kẻ định ám sát và đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đại Tá Tung liền qua họp, (không phải là để qua dự Lunch Party).
Tr/tg Trần văn Đôn đã ra lệnh cho Quân Cảnh canh gác trước phòng hội Toà Nhà Chính Bộ TTM là: “BẤT CỨ AI BƯỚC RA KHỎI PHÒNG HỌP NÀY LÀ PHẢI BẮN CHẾT NGAY”.
Trong khi họp đã có tuyên bố là sẽ đảo chánh TT NĐD và nếu ai không đồng ý thì cứ việc ra về. Đại Tá Tung liền bỏ ra và bị bắn chết ngay tại hành lang của toà nhà chính nơi có phòng họp.
Sự thật mà Th/Tg Lê Văn Nghiêm đã thuật cho nghe là như vậy. Tóm lược là:
1/ Đại Tá Tung được mời qua dự họp.
2/ Lý do là để thảo luận kế hoạch vì có tin ám sát TT NĐD và đảo chánh.
3/ Cố Đại Tá Lê Quang Tung bị bắn chết ngay khi bước ra khỏi phòng họp.
4/ Không có chuyện cố Đại Tá Tung chửi bới, mắng nhiếc.
5/ Không có chuyện ép cố Đại Tá Tung gọi điện thoại,vì đã bị giết ngay khi bước ra khỏi phòng họp
6/ Không có chuyện đại úy Nhung lôi anh em LQT và LQTr lên sân thượng toà nhà chính Bộ TTM để bắn chết ngay vì Th/Ta LQTr chỉ tới Bộ TTM vào buỏi tối khi đi kiếm cố Đại Tá LQT.
7/ Chi tiết những lời trung thực của Tướng Lê Văn Nghiêm có thể không đúng 100% nhưng đại ý là như vậy.
Tướng LVN đã không nói gì về những mắng chửi của cố Đại Tá LQT và cũng không nói gì vè ai đã hạ sát th/tá Lê Quang Triệu, vì thế tôi khẳng định là không hề có chuyện cố Đại Tá LQT mắng chửi, và bị đại úy Nguyễn văn Nhung đưa hai anh em đại Tá Tung và Triệu lên sân thượng và bắn chết ở chòi canh, hoặc đưa hai anh em LQT & LQTr ra sân cỏ sát trường bay để bắn chết và vùi thây xuống huyệt nông.
Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự trung thực trong lời thuật lại của Th/Tg Lê văn Nghìêm. Tôi xin qúy vị nên vì danh dự cá nhân, nhất là danh dự của một sĩ quan QLVNCH hãy đừng “Phịạ” chuyển để bôi nhọ ngưòi chết vì người chết không thể đội mồ dậy để minh oan, hoặc nhục mạ người sống khi người sống khinh bỉ mà không thèm lên tiếng. Xin hãy nhớ câu người xưa thường noi “Lời nói là đọi máu” và “Lời nói có quỷ thần hai vai chứng giám”.
Kính
Trần Doãn Thường
Nguồn:http://www.lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=3420:3420&catid=54:vnch&Itemid=65
Đại Tá Lê Quang Tung
Đại tá Lê Quang Tung (1923 hoặc 1919-1963) là một sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam Cộng hòa, kiêm Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống, từ năm 1960 cho đến khi bị giết chết trong Cuộc đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. CIA từng xếp ông là người có quyền lực nhất ở Nam Việt Nam sau anh em Diệm và Nhu.[2]
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo mộ đạo miền Trung, ông sớm hình thành đức tin cuồng tín và chống Cộng mãnh liệt. Vì vậy, sau khi Pháp tái chiếm Huế trong cuộc chiến tranh Đông Dương, ông bắt đầu làm việc cho Sở An ninh Trung Kỳ[7] từ năm 1947 và từng được bổ làm Trưởng Ty An ninh ở Quảng Trị.
Với sự ra đời của Giải pháp Bảo Đại và chuẩn bị tiến tới thành lập Quốc gia Việt Nam, chính quyền Pháp đã tiến hành cải tổ nhẹ cơ sở cai trị Đông Dương. Tuy bộ máy hành chính vẫn giữ nguyên, nhưng tên gọi các cơ quan và các chức vụ hành chính được đổi tên để tránh gợi nhớ lại thời thuộc địa trước đây. Cấp Kỳ được đổi sang cấp Phần. Các chức vụ Chủ tịch Ủy ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội Bắc Kỳ, Hội trưởng Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, Thủ tướng Nam Kỳ, được đổi thành chức vụ Thủ hiến Bắc phần, Trung phần, Nam phần. Các Sở An ninh cũng được đổi thành Nha Công an. Năm 1950, Lê Quang Tung được rút về làm việc tại Nha Công an Trung phần tại Huế.
Năm 1952, ông được cử đi học khóa đào tạo 6 tháng để bổ sung các sĩ quan quân đội người Việt, tuy nhiên vì nhiều lý do, nên mãi đến năm 1954 ông mới tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy và trở thành đảng viên đảng Cần Lao chính thức. Ông được phân bổ làm sĩ quan tình báo tại Tiểu đoàn 53 Bộ binh đóng tại Duy Xuyên, Quảng Nam.
Năm 1955, ông được thăng Trung úy và được bổ nhiệm làm Trưởng Ty An ninh Quân đội Huế. Vì là một tín đồ Công giáo, đảng viên Cần Lao, lại là một sĩ quan quân đội, ông sớm được sự tín cẩn của Ngô Đình Cẩn. Vì vậy, cùng trong năm này, ông cùng với trung úy Nguyễn Văn Châu được Ngô Đình Nhu giao nhiệm vụ tham gia thành lập Quân ủy Trung ương đảng Cần Lao[8]. Không lâu sau ông được thăng Đại úy, chuyển sang làm Chánh Sở 2 An ninh Quân đội ở Huế.
Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình, nhưng tổ chức và hoạt động vẫn như cũ. Ngày 1 tháng 1 năm 1961, ông được thăng Đại tá, kiêm luôn Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống vừa được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm chính thức đổi tên Sở Khai thác Địa hình thành Lực lượng Đặc biệt, vẫn giao quyền chỉ huy trưởng cho Lê Quang Tung.[14]
Uy tín của Tổng thống Diệm ngày càng xuống thấp. Đỉnh điểm với Sự kiện Phật Đản, 1963 đã làm dấy lên cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng tại miền Nam Việt Nam. Để nhanh chóng trấn áp phong trào Phật giáo và các nhóm đối lập, Ngô Đình Nhu đã lên kế hoạch tấn công các cơ sở Phật giáo, quan trọng nhất là vụ tấn công chùa Xá Lợi. Trong sự việc này, lực lượng quân đội bị cấm trại và các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Lê Quang Tung đã tấn công vào chùa Xá Lợi vào ngày 21 tháng 8 1963 dưới bộ quân phục của Quân đội Việt Nam Cộng hòa[16]
Một kế hoạch khác cũng được giao cho Lê Quang Tung nhưng chưa kịp thực hiện. Theo đó, các binh sĩ thuộc Lực lượng Đặc biệt sẽ cải trang và ám sát đại sứ Henry Cabot Lodge, Jr. và một số quan chức chủ chốt của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Tòa Đại sứ cũng sẽ bị người của Lực lượng Đặc biệt đốt cháy[17]. Tuy nhiên, có lẽ giờ chót, kế hoạch này đã bị hoãn lại.
Các quan chức Mỹ rất phẫn nộ trước vụ việc, đe dọa sẽ rút lại viện trợ cho Lực lượng Đặc biệt, trừ khi họ được sử dụng trong cuộc chiến chống Cộng. Vụ tấn công tuy tạm thời làm lắng xuống sự chống đối, nhưng đó chỉ là sự ngấm ngầm để bùng phát dữ dội hơn. Vì là một người trung thành với họ Ngô, đồng thời phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp trong vụ tấn công chùa Xá Lợi, Lê Quang Tung tự nhiên trở thành người đầu tiên phải diệt trừ nếu có đảo chính xảy ra.
Chính vì vậy, ngày 19 tháng 10 năm 1963, tướng Paul D. Harkins, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam đã thông báo cho Tổng thống Diệm biết ngân khoản Hoa Kỳ dành cho Lực lượng Đặc biệt đã bị cắt[1]. Trước khi đảo chính nổ ra, các tướng lĩnh đảo chính đã khéo léo tạo ra một tin giả, làm Tổng thống Diệm ra lệnh điều Lực lượng Đặc biệt ra vùng Hố Bò, Củ Chi, đồng thời điều Sư đoàn 5 Bộ binh về bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Diệm không thể ngờ đây lại là kế "Rút củi đáy nồi" và "Giấu trời qua biển" trong binh pháp, đưa bớt lực lượng bảo vệ ông ra ngoài và điều lực lượng đảo chính vào nội ô.
Cẩn thận hơn, các tướng lĩnh đảo chính còn dẫn dụ bắt giữ Đại tá Tung và em ông là Thiếu tá Lê Quốc Triệu. Cả hai người đều không thể ngờ lệnh triệu tập này là lệnh tử hình của mình.
Thân xác của Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu bị thất lạc cho đến tận ngày nay.
Mục lục
Thân thế
Hầu hết các tài liệu đều ghi ông sinh năm 1923 hoặc 1926. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Lữ Giang xác nhận theo sổ Rửa tội tại giáo xứ An Vân, Huế thì ông sinh ngày 13 tháng 6 năm 1919, rửa tội ngày 15 tháng 6 năm 1919, với tên thánh là André. Ông là người con thứ 5 trong một gia đình có 9 con gồm 6 trai 3 gái. Em út ông là Lê Quang Triệu, về sau trở thành Thiếu tá, Tham mưu phó Lực lượng Đặc biệt[3], và bị giết cùng ngày với ông.[1]Khởi đầu trong ngành an ninh
Khi Pháp tái chiếm Việt Nam, để tránh các bất lợi về chính trị, họ đã thành lập những cơ quan hành chính địa phương, đứng đầu bởi các nhân sĩ người Việt trung thành với việc tái lập thuộc địa nước Pháp. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, họ thành lập Chính phủ Nam Kỳ quốc tại Nam Bộ, do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng; ngày 15 tháng 4 năm 1947, thành lập Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, do cựu Tổng đốc Trần Văn Lý[4] là Hội trưởng; ngày 19 tháng 5 năm 1947, lập Ủy ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội Bắc Kỳ[5], do Y sĩ Trương Ðình Tri[6] làm Chủ tịch.Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo mộ đạo miền Trung, ông sớm hình thành đức tin cuồng tín và chống Cộng mãnh liệt. Vì vậy, sau khi Pháp tái chiếm Huế trong cuộc chiến tranh Đông Dương, ông bắt đầu làm việc cho Sở An ninh Trung Kỳ[7] từ năm 1947 và từng được bổ làm Trưởng Ty An ninh ở Quảng Trị.
Với sự ra đời của Giải pháp Bảo Đại và chuẩn bị tiến tới thành lập Quốc gia Việt Nam, chính quyền Pháp đã tiến hành cải tổ nhẹ cơ sở cai trị Đông Dương. Tuy bộ máy hành chính vẫn giữ nguyên, nhưng tên gọi các cơ quan và các chức vụ hành chính được đổi tên để tránh gợi nhớ lại thời thuộc địa trước đây. Cấp Kỳ được đổi sang cấp Phần. Các chức vụ Chủ tịch Ủy ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội Bắc Kỳ, Hội trưởng Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, Thủ tướng Nam Kỳ, được đổi thành chức vụ Thủ hiến Bắc phần, Trung phần, Nam phần. Các Sở An ninh cũng được đổi thành Nha Công an. Năm 1950, Lê Quang Tung được rút về làm việc tại Nha Công an Trung phần tại Huế.
Trở thành nhân vật Cần Lao quan trọng
Theo nhiều tài liệu, ông bắt đầu gia nhập đảng Cần Lao vào khoảng năm 1950. Có lẽ trong thời gian tùng sự tại Huế, ông tham gia phong trào thanh niên Công giáo tại miền Trung, chịu ảnh hưởng chủ thuyết Cần lao Nhân vị do Ngô Đình Cẩn lãnh đạo. Ông được cho là hoạt động tích cực trong việc tạo quỹ cho phong trào bằng cách tống tiền các thương gia giàu có tại Huế.Năm 1952, ông được cử đi học khóa đào tạo 6 tháng để bổ sung các sĩ quan quân đội người Việt, tuy nhiên vì nhiều lý do, nên mãi đến năm 1954 ông mới tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy và trở thành đảng viên đảng Cần Lao chính thức. Ông được phân bổ làm sĩ quan tình báo tại Tiểu đoàn 53 Bộ binh đóng tại Duy Xuyên, Quảng Nam.
Năm 1955, ông được thăng Trung úy và được bổ nhiệm làm Trưởng Ty An ninh Quân đội Huế. Vì là một tín đồ Công giáo, đảng viên Cần Lao, lại là một sĩ quan quân đội, ông sớm được sự tín cẩn của Ngô Đình Cẩn. Vì vậy, cùng trong năm này, ông cùng với trung úy Nguyễn Văn Châu được Ngô Đình Nhu giao nhiệm vụ tham gia thành lập Quân ủy Trung ương đảng Cần Lao[8]. Không lâu sau ông được thăng Đại úy, chuyển sang làm Chánh Sở 2 An ninh Quân đội ở Huế.
Người thân tín của Tổng thống Diệm
Cuối năm 1956, Ngô Đình Diệm chính thức trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Lê Quang Tung được rút về Sài Gòn giữ chức Giám đốc Nha Tổng Nghiên Huấn Bộ Quốc phòng, cấp bậc Thiếu tá. Tuy nhiên, không lâu sau thì Nha Tổng Nghiên Huấn bị giải thể, ông được điều làm Giám đốc Sở Liên lạc Phủ Tổng thống, được mang quân hàm Trung tá giả định. Trên thực tế, đây là một đơn vị nghiên cứu phương án huấn luyện và tung biệt kích ra phá hoại miền Bắc. Chính vì vậy, ông được cử sang Honolulu, Hoa Kỳ, tham gia một khóa huấn luyện đặc biệt của CIA về hoạt động bí mật và xâm nhập.[9]. Khi về nước, năm 1958, ông chỉ huy một trung tâm huấn luyện biệt kích với quân số 1.840 người[10] đặt dưới sự chỉ huy trực của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu, mà không phải thông qua quyền lãnh đạo của các chỉ huy quân đội[11]. Tuy nhiên, các hoạt động tung biệt kích này rất kém hiệu quả. Các toán xâm nhập đều bị tóm cổ khi đặt chân lên đất miền Bắc không bao lâu. Chính vì điều này, ông đã bị chỉ trích mãnh liệt do yếu kém trong điều hành chỉ huy[12][13]. Trên thực tế, ngoài yếu tố bị tình báo miền Bắc phát hiện, ông chỉ là người thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cố vấn Nhu và các cố vấn Mỹ.Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình, nhưng tổ chức và hoạt động vẫn như cũ. Ngày 1 tháng 1 năm 1961, ông được thăng Đại tá, kiêm luôn Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống vừa được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm chính thức đổi tên Sở Khai thác Địa hình thành Lực lượng Đặc biệt, vẫn giao quyền chỉ huy trưởng cho Lê Quang Tung.[14]
Cái chết bi thảm
Dáng vẻ thấp đậm và đeo kính, một tín đồ ngoan đạo, từng là một gia nhân cũ của gia đình họ Ngô Đình, trong chế độ Đệ nhất Cộng hòa, Lê Quang Tung đã được xem như là một trong số sĩ quan quân đội nhiều quyền lực nhất. Hết mực trung thành với họ Ngô, vì vậy ông bị các tướng như Nguyễn Khánh và Tôn Thất Đính ghét[15]. Trong hồi ký của mình, tướng Đỗ Mậu cũng nhận xét ông rất nổi tiếng trong quân đội về tinh thần địa phương quá khích, về thái độ mộ đạo cuồng tín và về quyết tâm phục tùng vô điều kiện mệnh lệnh đối với tổng thống Ngô Đình Diệm[8]. Chính vì vậy, sau khi CIA từ bỏ những điệp vụ tốn kém và không hiệu quả, Cố vấn Ngô Đình Nhu vẫn tiếp tục phát triển Lực lượng Đặc biệt trở thành một đơn vị tinh nhuệ cơ động nhằm để đàn áp các đối thủ đối lập. Với mục đích đó, Lê Quang Tung đã trở thành một nhân vật quan trọng, được giao chỉ huy các nhiệm vụ an ninh và phản gián, công khai lẫn bí mật bảo vệ quyền lực của gia đình Ngô Đình.Uy tín của Tổng thống Diệm ngày càng xuống thấp. Đỉnh điểm với Sự kiện Phật Đản, 1963 đã làm dấy lên cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng tại miền Nam Việt Nam. Để nhanh chóng trấn áp phong trào Phật giáo và các nhóm đối lập, Ngô Đình Nhu đã lên kế hoạch tấn công các cơ sở Phật giáo, quan trọng nhất là vụ tấn công chùa Xá Lợi. Trong sự việc này, lực lượng quân đội bị cấm trại và các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Lê Quang Tung đã tấn công vào chùa Xá Lợi vào ngày 21 tháng 8 1963 dưới bộ quân phục của Quân đội Việt Nam Cộng hòa[16]
Một kế hoạch khác cũng được giao cho Lê Quang Tung nhưng chưa kịp thực hiện. Theo đó, các binh sĩ thuộc Lực lượng Đặc biệt sẽ cải trang và ám sát đại sứ Henry Cabot Lodge, Jr. và một số quan chức chủ chốt của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Tòa Đại sứ cũng sẽ bị người của Lực lượng Đặc biệt đốt cháy[17]. Tuy nhiên, có lẽ giờ chót, kế hoạch này đã bị hoãn lại.
Các quan chức Mỹ rất phẫn nộ trước vụ việc, đe dọa sẽ rút lại viện trợ cho Lực lượng Đặc biệt, trừ khi họ được sử dụng trong cuộc chiến chống Cộng. Vụ tấn công tuy tạm thời làm lắng xuống sự chống đối, nhưng đó chỉ là sự ngấm ngầm để bùng phát dữ dội hơn. Vì là một người trung thành với họ Ngô, đồng thời phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp trong vụ tấn công chùa Xá Lợi, Lê Quang Tung tự nhiên trở thành người đầu tiên phải diệt trừ nếu có đảo chính xảy ra.
Chính vì vậy, ngày 19 tháng 10 năm 1963, tướng Paul D. Harkins, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam đã thông báo cho Tổng thống Diệm biết ngân khoản Hoa Kỳ dành cho Lực lượng Đặc biệt đã bị cắt[1]. Trước khi đảo chính nổ ra, các tướng lĩnh đảo chính đã khéo léo tạo ra một tin giả, làm Tổng thống Diệm ra lệnh điều Lực lượng Đặc biệt ra vùng Hố Bò, Củ Chi, đồng thời điều Sư đoàn 5 Bộ binh về bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Diệm không thể ngờ đây lại là kế "Rút củi đáy nồi" và "Giấu trời qua biển" trong binh pháp, đưa bớt lực lượng bảo vệ ông ra ngoài và điều lực lượng đảo chính vào nội ô.
Cẩn thận hơn, các tướng lĩnh đảo chính còn dẫn dụ bắt giữ Đại tá Tung và em ông là Thiếu tá Lê Quốc Triệu. Cả hai người đều không thể ngờ lệnh triệu tập này là lệnh tử hình của mình.
Thân xác của Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu bị thất lạc cho đến tận ngày nay.
Chú thích
- ^ a ă â b Lữ Giang, "Trở lại vụ án Lê Quang Tung", 30/11/2010.
- ^ Prochnau, tr.368
- ^ Nhiều tài liệu ghi là Tham mưu trưởng.
- ^ Ông Trần Văn Lý (1901-?) là một nhân sĩ quê gốc Quảng Trị. Tốt nghiệp Cao đẳng Hành chánh Hà Nội, làm Tham tá tại Quy Nhơn trong ngạch quan lại Pháp. Sau đó, trở lại ngạch quan lại Nam triều với chức Thương tá Trung Phước (Bình Định), rồi Tri huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa). Giữ chức Quản đạo Đà Lạt từ năm 1926 đến 1935. Sau được điều ra Huế làm Ngự Tiền văn phòng cho Hoàng đế Bảo Đại. Trước năm 1945, ông là Tổng đốc Ninh Thuận-Bình Thuận-Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.
- ^ còn gọi là Hội đồng An dân Bắc Kỳ
- ^ Đảng viên Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Cựu Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- ^ Về danh nghĩa, Sở An ninh Trung Kỳ trực thuộc Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, do người Việt lãnh đạo. Trên tế, Sở An ninh Trung Kỳ chịu quyền điều hành trực tiếp của Sở An ninh Liên bang (Sûreté Fédérale, còn gọi là Sở Mật thám Liên bang hay Sở Liêm phóng Liên bang.) thuộc Phủ Cao ủy Đông Dương do người Pháp nắm quyền.
- ^ a ă Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi", chương 5.
- ^ Karnow, tr. 307
- ^ Langguth, tr. 248
- ^ Jones, tr. 390
- ^ Karnow, tr. 378
- ^ Tucker, tr.227
- ^ Shaplen, tr. 190
- ^ Jones, tr. 301
- ^ Hammer, tr. 166-167.
- ^ Jones, tr. 393.
Tham khảo
- Hammer, Ellen J. (1987). A Death in November: America in Vietnam, 1963. New York City, New York: E. P. Dutton. ISBN 0-525-24210-4.
- Prochnau, William (1995). Once upon a distant war. Times Books.
- Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A history. New York City, New York: Penguin Books. ISBN 0-670-84218-4.
- Langguth, A. J. (2000). Our Vietnam: the war, 1954–1975. New York City, New York: Simon & Schuster. ISBN 0-684-81202-9.
- Jones, Howard (2003). Death of a Generation: how the assassinations of Diem and JFK prolonged the Vietnam War. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-505286-2.
- Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social and Military History. Santa Barbara, California: ABC-CLIO. ISBN 1-57607-040-9.
- Shaplen, Robert (1965). The lost revolution: Vietnam 1945-1965. Andre Deutsch.
- Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi".
Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.
Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.
Cụm Tình
Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập
Định nghĩa:
Tình báo, gián
điệp là người hoạt động bí mật
của phe địch để dọ thám lấy tin
tức về tình hình quân sự, chính
trị, kinh tế hoặc tác động, phá
hoại.
*
GIÁN ĐIỆP
CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT
NAM
Trong chiến tranh, ở miền Nam,
ngoài những tên VC nằm vùng, còn
có những điệp viên thuộc tình
báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn,
Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê
Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.

2.1. VŨ NGỌC NHẠ
Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then
chốt trong vụ án Cụm Tình
Báo A.22 làm rung động chính
quyền miền Nam năm 1969.
Tên thật là Vũ Xuân Nhã,
sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh
Thái Bình. Được kết nạp vào
đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc
Nhạ còn nhiều cái tên khác
nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ
(tên Thánh), Vũ Đình Long
(Hai Long) bí danh Lê Quang
Kép, Thầy Bốn, "Ông Cố Vấn".
2.1.1. Hoạt động
Năm 1955.
Xuống tàu di cư vào Nam.
Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp
viên khác trà trộn vào đoàn
người di cư vào Nam. Nhạ
cùng vợ và con gái xuống tàu
Hải Quân Pháp cùng hàng
triệu người Công giáo di cư
vào Nam.
- Làm thư ký đánh máy ở Bộ
Công Chánh. Chinh phục được
cảm tình của Linh mục Hoàng
Quỳnh và trở thành "Người
giúp việc" của Giám mục Lê
Hữu Từ.
Năm 1958
Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị
Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền
Trung của Nguyễn Tư Thái, tự
Thái Đen, bắt giữ và giam
tại trại Tòa Khâm (Huế) để
chờ điều tra xác minh. Linh
mục Hoàng Quỳnh can thiệp
cho nên Nhạ không bị buộc
tội.
* Người Giúp Việc của Đức
Cha Lê Hữu Từ
Một khuyết điểm lớn của Đoàn
Công Tác Đặc Biệt Miền Trung
là giam giữ những nghi can
gián điệp chung với nhau tại
trại Tòa Khâm. Chính ở đó,
Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với
các "cơ sở" (những cá nhân)
tình báo khác, đặc biệt là
trùm tình báo VC Mười Hương.
Tạo dựng niềm tin đối với
Ngô Đình Cẩn.
Năm 1959
Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình
"Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ"
được sự chú ý của Ngô Đình
Cẩn và sau đó, của ông Nhu,
ông Diệm. Do sự dự đoán
chính xác về cuộc đảo chánh
11-11-1960 của tướng Nguyễn
Chánh Thi, anh em ông Diệm
đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.
Nhờ danh nghĩa "Người Giúp
Việc" của Đức Cha Lê Hữu Từ
mà Nhạ được xử dụng như là
Người Liên Lạc giữa anh em
Họ Ngô và giới Công Giáo di
cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập
được nhiều tin tức tình báo
có giá trị. Từ đó, Nhạ có
biệt danh là "Ông Cố Vấn".
* Xây dựng Cụm Tình Báo
Chiến Lược A.22
Sau đảo chánh 1-11-1963, thế
lực Công giáo phát triển
mạnh dưới tay của Linh mục
Hoàng Quỳnh.
Cuối năm 1965, sự tranh
giành quyền lực trong "nhóm
tướng trẻ", do sự giới thiệu
của LM Hoàng Quỳnh, Tướng
Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng
Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò
liên lạc giữa tướng Thiệu và
Khối Công giáo. Nhạ đã khéo
léo lợi dụng vai trò đó để
tạo ảnh hưởng đến các chính
trị gia dân sự và quân sự.
Năm 1967
Sau khi tướng Nguyễn Văn
Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp
trên nhận thấy cần thiết
phải mở rộng mạng lưới tình
báo, thành lập Cụm A.22.
(A.22 là mật danh của Vũ
Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn
Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm
Cụm Phó trực tiếp phụ trách
mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22
được đặt dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Nguyễn Đức
Trí, chỉ huy phó Tình Báo
Quân Sự ở miền Nam.
Bắt đầu, Cụm A.22 "phát
triển" thêm Nguyễn Xuân Hoè,
Vũ Hữu Ruật đều là những
điệp viên mà Nhạ đã bắt liên
lạc trong khi bị giam chung
tại Tòa Khâm. Sau đó, thu
nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng
và quan trọng nhất là vào
đầu năm 1967, bổ sung thêm
Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật
danh là A.25.
Các điệp viên nầy được giao
nhiệm vụ "Chui sâu, leo cao"
nắm lấy những chức vụ quan
trọng để thu thập thông tin
và để tác động vào chính
quyền.
Thành công
của Cụm A.22 là cài được 1
điệp viên dưới quyền của Lê
Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng
làm "Cố Vấn" cho tổng thống
Thiệu.

Chính
Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ
hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để
thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh
Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiến lược.
* Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo
CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.
Giữa năm 1968
Hồ
sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành
điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng
Nha Cảnh Sát QG VNCH.
Vào
trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B
được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.
Toàn
bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè,
Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể
cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.
Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.
Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.
Chính
quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng
thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 "Cố vấn" của tổng thống đã bị
bắt.
* Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị
Đây
là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất
động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng
thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.
Tòa
án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác
đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.
Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:
- Chung thân khổ sai:
Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.
- Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.
Khi
quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang
nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn "Tôi gởi lời thăm ông
Thiệu".
* Cho rằng CIA dàn cảnh
Một
bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã
dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã
triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một
người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và
Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh
giá:"Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng".
* Tiếp tục hoạt động
Đầu năm 1973
Vũ
Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong
thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc
nối, bắt bắt liên lạc với nhóm "Thành Phần Thứ 3" của Dương Văn Minh.
Ngày 23-7-1973
Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là "Linh mục Giải Phóng".
Năm 1974

Vũ
Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ
trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến
lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .
Ngày 30-4-1975
Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.
* Bị thất sủng và được tôn vinh
Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.
Năm 1976
Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.
Năm 1981
Được
thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin
tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai
Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.
Năm 1987
Tác
giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết "Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên"
ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và
Nhạ được phong Thiếu Tướng.
Vũ
Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm
chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần
Đức và Phạm Ngọc Thảo.

2.2. PHẠM XUÂN ẨN
* Thân thế Và Hoạt động
Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.
Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.
Theo học trường Collège de Can Tho.
Năm 1948
Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.
Năm 1950
Làm
nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình
hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần
đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm
vào hoạt động.
Năm 1952
Phạm
Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ
Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.
Năm 1953
Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.
Năm 1954
Phạm
Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng
Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares
(Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale,
trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người
chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ
(US.MAAG) tại Saigon.

Phạm xuân ẩn khoe của
hoạt động trong bộ máy Phạm ngọc thảo của Cần lao
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Thẻ Hành Sự do Bộ Tư Lệnh CSQG cấp cho Thiếu Tá Liên Thành 1973
Liên Thành khoe của
Cụm phá hoại Cộng Đồng của VC tiếp tục công việc tại Mỹ trong bộ máy Cần lao
ssssssssssssssssssssssssssssssssssss
Năm 1955
Theo
đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo
tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội.
Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng
cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp
trước đó.
Phạm
Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan
trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu,
sau nầy trở thành tổng thống VNCH.
Năm 1957
Tháng
10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho
Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp
cận với những nhân vật có quyền lực nhất.
Năm 1959
Phạm
Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến,
giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan
mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã,
phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.
Năm 1960
Từ
năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn
Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc
cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science
Monitor...
Từ 1959 đến 1975
Với
cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với
các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập
được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình
báo.
Những
tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua
Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên
Giáp đã reo lên "Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ".
Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.
Giai Đoạn 1973-1975
Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ "Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam " của đảng CSVN.
Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .
Ngày
30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe
tăng của VC hút đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các
phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn
là một điệp viên Cộng sản.
Vợ
con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp
trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công
tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.
Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh
Ngày 15-1-1976, trung tá "Trần Văn Trung", tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng "Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang".
Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn "sống quá lâu trong lòng địch".
Theo
Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với
báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá "Mỹ"
và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .
Năm 1986
Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.
Năm 1990
Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.
Năm 1997
Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.
Năm 2002
Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.
Con
trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc
tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.
Thất Vọng
Trong
những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng
không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, "đừng chôn ông
gần những người Cộng Sản".
* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.
Lê Duẩn
Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.
Frank
Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval
(Khoảng cách thích đáng) nói:"Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình
báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai "Dẫn con mèo đi ngược" để
thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ
quan CIA không có gan để làm việc đó." Hết trích.
Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói "Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó".

2.3. PHẠM NGỌC THẢO
1. Thân thế
Phạm
Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần,
một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là
Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.
Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.
Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.
2. Hoạt động VC
Sau
khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao
liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bô. Đó Là Lê Duẩn,
người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.
Được
bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404
hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho
Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành
tướng lãnh của QLVNCH.
Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.
3. Hoạt động tình báo
Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.
Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.
Phạm
Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng
bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề
dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn
đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc
Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.
Năm 1956
Phạm
Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng
QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý "Đồng Hóa".
Năm 1956
Do
sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư
Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở
Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.

4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH
- Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.
- Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.
Thảo
biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ
trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến
thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh
pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả
TT Diệm và Ngô Đình Nhu.
Năm 1957
Phạm
Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với
cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.
Năm 1960
Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.
Năm 1961
Phạm
Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc
nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên
ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.
Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.
Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.
5. Tham gia các cuộc đảo chánh
1. Đảo chánh lần thứ nhất, 1963
Tháng
9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính
Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh
Ngô Đình Diệm.
Phạm
Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4,
Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần
Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.
Sau
ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo
thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ
VNCH ở Hoa Kỳ.
2. Đảo chánh lần thứ hai năm 1965
Đầu
năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo.
Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và
bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.
Đảo
chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa
Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải
đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .
Ngày 19-2-1965
Phạm
Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê
Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn
Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.
Ngày 20-2-1965
Hội
Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm
chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc
Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.
Ngày 21-2-1965
Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.
Ngày 22-2-1965
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)
Ngày 25-2-1965
Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.
6* Bị bắt và qua đời
Ngày 11-6-1965
Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.
Ngày 14-6-1965
Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.
Phạm
Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt
Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống
Mỹ và Thiệu.
Phạm
Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai,
Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính
quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai
bắt được Thảo.
Võ
Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại "Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để
đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận
việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam". (Võ Văn Kiệt)
Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.
Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.
Lúc
3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An
ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để
thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào
càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường,
Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.
Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.
Theo
Larry Berman trong cuốn "Perfect Spy" thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và
hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da,
buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói
rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.
Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.
Phạm
Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp.
Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.
Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.
Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.
Trúc Giang
Subscribe to:
Posts (Atom)




